In trang: 


Chuyển giao ứng dụng CNSH trong sản xuất nông nghiệp: Cần thêm “cú hích”

Đăng ngày:1/11/2016 2:52:26 PM bởi ttudbd

Từ năm 2010 đến nay, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Bình Định (BICASTEP - thuộc Sở KH&CN) đã triển khai chương trình chuyển giao, ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH) giai đoạn 2010-2015 đến bà con nông dân trong tỉnh với 9 loại mô hình. Đây được coi là giải pháp quan trọng để hướng tới sản xuất nông nghiệp sạch và bền vững.

Từ năm 2010 đến nay, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Bình Định (BICASTEP - thuộc Sở KH&CN) đã triển khai chương trình chuyển giao, ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH) giai đoạn 2010-2015 đến bà con nông dân trong tỉnh với 9 loại mô hình. Đây được coi là giải pháp quan trọng để hướng tới sản xuất nông nghiệp sạch và bền vững.

KH&CN hiện đã trở thành yếu tố chính giúp tăng năng suất, giảm giá thành, nâng cao chất lượng nông sản, nhất là trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập ngày càng sâu rộng. KH&CN được coi là “xương sống” để ngành nông nghiệp nâng cao giá trị cho nông sản.

Trong số 9 loại mô hình ứng dụng CNSH được BICASTEP chuyển giao, mô hình trồng nấm sò hiện đang được bà con rất “hít”.

- Trong ảnh: Mô hình trồng nấm sò tại gia đình ông Đặng Xuân Tiến (thị trấn Ngô Mây, huyện Phù Cát).

Hiệu quả nhiều mặt

Đến nay, BICASTEP đã xây dựng 5 mô hình trồng nấm phân tán trong các hộ gia đình ở các huyện Vân Canh, Vĩnh Thạnh, Phù Cát, Phù Mỹ và Hoài Nhơn. Mỗi mô hình sản xuất từ 1 - 2 loại nấm, với quy mô 4 - 5 tấn nguyên liệu cho mỗi loại nấm. Bịch phôi do Trung tâm cung cấp, hoặc Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật để người dân tự sản xuất. Có hộ còn tự đầu tư xây lò hấp quy mô 400 bịch/mẻ, tự sản xuất bịch phôi và trồng nấm sò, nấm linh chi thương phẩm đạt hiệu quả đáng kể.

Bà Phạm Nguyễn Thu Trang, Phó Giám đốc BICASTEP, cho hay: “Hiện nay, nghề trồng nấm phát triển mạnh trên địa bàn tỉnh. Người trồng nấm có nhu cầu mua bịch phôi khá nhiều, có tháng đến vài chục ngàn bịch. Thông qua một số chương trình chuyển giao, ứng dụng CNSH hàng năm, chúng tôi hướng dẫn bà con nông dân xây lò hấp, tự sản xuất bịch phôi, Trung tâm chỉ cung cấp giống nấm”.

Trong các mô hình đã được BICASTEP chuyển giao, “hít” nhất hiện nay là mô hình trồng nấm sò. Từ một số ít hộ dân được hỗ trợ ban đầu, mô hình đã nhân rộng và sản phẩm được thị trường trong tỉnh tiêu thụ mạnh. Ông Đặng Xuân Tiến, ở thị trấn Ngô Mây, huyện Phù Cát, trồng 10 tấn nguyên liệu nấm sò, 1 tấn nguyên liệu nấm mộc nhĩ. Trại nấm của ông khá quy mô, ngoài che lưới, lợp lá để trại luôn có nhiệt độ ổn định, ông còn dùng bạt nylon trải trên bề mặt trại và tạo ra những hố lồi lõm để khi tưới nước sẽ đọng lại và bốc hơi làm mát trại. “Tôi trồng 5.000 bịch nấm sò, sau 3 tháng thu về 50 triệu đồng. Riêng 300 bịch nấm mèo trồng thử nghiệm phát triển tốt, đang cho thu hoạch” - ông Tiến cho biết.

Trong khi đó, mô hình ứng dụng chế phẩm sinh học Trichoderma trong thâm canh cây đậu phụng, ớt, kiệu… được triển khai từ năm 2011 đến nay tại hầu hết các địa phương trong tỉnh. Đây là mô hình hiệu quả và đi đúng hướng để phát triển sản phẩm nông nghiệp sạch. Theo ông Nguyễn Văn Thanh, Phó Chủ tịch UBND xã Mỹ Tài (huyện Phù Mỹ), các loại thuốc bảo vệ thực vật trước đây vừa mắc tiền, bệnh lại hay bị tái phát. Khi sử dụng chế phẩm sinh học Trichoderma thì cây ớt sạch bệnh. Từ mô hình ứng dụng trên 4.000 m2, đến nay nhiều hộ nông dân trong xã đã sử dụng đại trà chế phẩm này, tiết kiệm được nhiều chi phí, lại không ảnh hưởng đến người trực tiếp sản xuất và người tiêu dùng, rất thân thiện với môi trường. Qua đó, giúp cho bà con bước đầu có ý thức về khái niệm canh tác nông nghiệp bền vững, thay đổi tư duy để tạo ra sản phẩm nông nghiệp sạch mang tính cạnh tranh.

Khắc phục khó khăn, mở rộng mô hình

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả bước đầu, vẫn có mô hình thất bại, không thể nhân rộng, như mô hình trồng phong lan, hoa đồng tiền và mô hình ứng dụng chế phẩm sinh học Metarhizium phòng ngừa rầy nâu hại lúa. Theo thạc sĩ Huỳnh Xuân Trường, Giám đốc BICASTEP, ngoài nguyên nhân khách quan, về chủ quan vẫn là do yếu tố con người, kể cả từ 2 phía cán bộ hỗ trợ kỹ thuật và hộ nông dân thực hiện mô hình. Trình độ của cán bộ khuyến nông xã, phường nếu thấp thì rất khó triển khai. Thêm vào đó là ở nhiều địa phương, chính quyền chưa thực sự quan tâm và ủng hộ cho các mô hình ứng dụng CNSH trong sản xuất nông nghiệp.

“Một cái vướng nữa là về cơ chế quản lý tài chính không thể triển khai hay đầu tư mô hình kéo dài, khiến một số mô hình dù thành công về mặt khoa học, nhưng khi đưa ra thực tiễn triển khai thì bị “chết yểu”. Trong khi đó, liên quan đến CNSH, đầu tư ban đầu chưa thể phát huy được hiệu quả mà cần phải có thời gian dài. Chúng tôi đã nghĩ đến biện pháp kết thúc vụ đầu của mô hình, các địa phương sẽ tiếp tục dùng kinh phí sự nghiệp khoa học cấp cho huyện để “gối đầu” đầu tư cho mô hình phát triển và nhân rộng. Bên cạnh đó, còn là việc nghiên cứu tháo gỡ cơ chế chính sách để thu hút sự tham gia đầu tư, nghiên cứu của doanh nghiệp” - ông Trường cho biết.

Dự kiến trong năm 2016, cùng với các mô hình trọng tâm đang phát huy hiệu quả thực tiễn, BICASTEP tiếp tục triển khai xử lý rác cho các hộ gia đình, tạo điều kiện về xử lý ô nhiễm môi trường nông thôn. Đồng thời, nghiên cứu một số giống hoa mới để phục vụ thị trường và kỹ thuật mới trồng hoa “sạch” ở một số vùng có truyền thống chuyên canh hoa.

Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Tố Trân, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông - khuyến ngư (thuộc Sở NN&PTNT), các mô hình nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao kỹ thuật về CNSH mà BICASTEP triển khai đã đi đúng hướng và xu thế phát triển của nông nghiệp sạch và bền vững. Trong đó hiệu quả nhất là 2 mô hình trồng nấm sò và mô hình sử dụng chế phẩm vi sinh Trichoderma. “Tuy nhiên, để ứng dụng nhân rộng mô hình thì vẫn cần phải có thêm “cú hích” giải quyết các vấn đề “hậu” chuyển giao kỹ thuật và công nghệ đó cho nông dân” - tiến sĩ Tố Trân nhấn mạnh.

THU HIỀN

Nguồn tin: Báo


Bản quyền © 2015 Xã Nhơn Khánh - An Nhơn - Bình ĐịnhIn trang: